Ý chính
- Tám slicer họ Bambu/Orca cùng ghi một cấu trúc 3MF, nhưng mỗi phần mềm kiểm tra thẻ Application trong file và chỉ nạp cài đặt khi đó là file của chính nó.
- Cài đặt gắn với bản in (lớp, vách, infill, support, màu sơn, bố cục bàn) mang sang được. Cài đặt gắn với máy (G-code, khổ bàn, giới hạn tốc độ và gia tốc, đường kính đầu phun) phải lấy từ profile máy đích.
- Một project chỉ “nhớ” những giá trị được liệt kê là khác với preset hệ thống. Giá trị nào không có trong danh sách đó sẽ bị slicer âm thầm đặt lại về preset khi mở.
- Cùng một tuỳ chọn có thể mang tên khác nhau giữa hai slicer, ví dụ kiểu infill Bambu Studio gọi là `zig-zag` thì OrcaSlicer gọi là `rectilinear`. Chép nguyên văn sẽ làm slicer đích từ chối giá trị đó.
- Đổi sang máy có bàn nhỏ hơn thì phải xếp lại bàn. Kiểm tra lại bàn 2 trở đi sau khi mở, nhất là với máy có vùng in không bắt đầu từ gốc toạ độ.
Bạn tải một project từ MakerWorld, mở trong Creality Print hay OrcaSlicer, và thấy mọi thứ về mặc định: chiều cao lớp, infill, support, có khi mất luôn màu sơn. Hoặc ngược lại — mở file của OrcaSlicer trong Bambu Studio và nhận một dòng thông báo màu vàng. Bài này giải thích chuyện gì xảy ra bên trong file, phần nào chuyển được, phần nào không nên chuyển, và cách làm cho đúng.
Tám slicer, một kiểu file
Bambu Studio dựa trên PrusaSlicer. OrcaSlicer bắt đầu từ Bambu Studio. Phần lớn slicer của các hãng máy khác lại dựa trên OrcaSlicer: Creality Print, ElegooSlicer, Anycubic Slicer Next, Snapmaker Orca và Orca-Flashforge đều ghi điều đó trong README của mình. QIDI Studio thì dựa thẳng trên Bambu Studio. Vì cùng tổ tiên nên cả tám phần mềm ghi project 3MF theo cùng một bố cục:
| Tệp trong gói ZIP | Chứa gì | Chuyển sang slicer khác |
|---|---|---|
| 3D/3dmodel.model và 3D/Objects/*.model | Lưới tam giác, vị trí từng vật thể trên bàn, màu sơn từng mặt | Được — đây là phần chuẩn |
| Metadata/project_settings.config | Toàn bộ cài đặt in, vật liệu, máy, gộp thành một tệp JSON | Được, nhưng phải đổi tên giá trị và lọc theo máy đích |
| Metadata/model_settings.config | Danh sách vật thể, phần, modifier, cài đặt riêng từng vật thể, và bàn nào chứa vật thể nào | Được, nếu vật thể vẫn vừa bàn mới |
| Metadata/plate_*.png, *.gcode | Ảnh xem trước, G-code đã cắt sẵn | Không — phải cắt lại cho máy mới |
| Metadata/*_settings_*.config | Preset tuỳ chỉnh của người lưu, kế thừa từ preset của slicer gốc | Không — slicer đích không có preset cha |
Vì sao slicer chỉ nạp hình khối
Trong tệp 3dmodel.model có một dòng metadata tên Application, ghi phần mềm và phiên bản đã lưu file. Khi mở, slicer đọc dòng này trước. Bambu Studio gặp file không phải của mình thì nạp hình khối và hiện: “The 3mf is not from Bambu Lab, load geometry data only.” OrcaSlicer gặp file nó không hỗ trợ thì báo “The 3MF is not supported by OrcaSlicer, loading geometry data only.” Với project Bambu Studio, OrcaSlicer có nạp cài đặt, nhưng kèm cảnh báo rằng một số cài đặt có thể khác.
Có những dòng thông báo đó cũng là hợp lý: cùng một tên khoá chưa chắc cùng nghĩa. Bambu Studio lưu nhiều tốc độ thành mảng, mỗi phần tử cho một biến thể đầu phun; OrcaSlicer lưu một số duy nhất. Một tuỳ chọn có thể đổi cách viết giữa hai nhánh: kiểu infill Bambu Studio gọi là zig-zag thì OrcaSlicer gọi là rectilinear; tuỳ chọn giữ độ dày vách đứng là enabled/partial/disabled ở bên này nhưng là ensure_all/ensure_moderate/none ở bên kia. Chép nguyên văn thì slicer đích hoặc từ chối giá trị, hoặc bỏ qua cả file cài đặt.
Cái gì nên mang sang, cái gì không
Nguyên tắc đơn giản: thứ gì người thiết kế chọn cho bản in thì mang sang; thứ gì nhà sản xuất chọn cho cái máy thì lấy của máy mới.
| Nhóm | Ví dụ | Lấy từ |
|---|---|---|
| Hình khối và bố cục | Vật thể, vị trí, xoay, tỉ lệ, modifier, màu sơn, các bàn | File gốc |
| Cài đặt in | Chiều cao lớp, số vách, infill, lớp trên/dưới, support, brim, seam, ironing | File gốc, đổi tên giá trị theo slicer đích |
| Vật liệu theo khe | Loại nhựa, nhiệt độ, quạt, màu từng khe | File gốc, khớp với preset nhựa của slicer đích |
| Tốc độ và gia tốc | Tốc độ vách ngoài, gia tốc infill | Máy đích (mặc định) — có thể chọn giữ của file gốc |
| Gắn với đầu phun | Độ rộng đường in, đường kính đầu đỡ cây | Máy đích khi đổi cỡ đầu phun |
| Gắn với máy | G-code bắt đầu/kết thúc, khổ bàn, vùng cấm, giới hạn trục, rút sợi | Máy đích |
Tốc độ là trường hợp cần cân nhắc. Tốc độ tối đa của một chiếc máy CoreXY khung kín khác hẳn một chiếc máy bàn trượt, nên mặc định nên dùng tốc độ của profile máy mới. Chỉ giữ tốc độ của file gốc khi hai máy cùng cỡ và bạn biết người thiết kế giảm tốc độ có chủ ý — ví dụ để in vách ngoài đẹp hơn.
Khi đổi cỡ đầu phun
Slicer kiểm tra chéo vài quy tắc mà file gốc không cần quan tâm. Đường in phải rộng hơn chiều cao lớp. Chiều cao lớp không được vượt đường kính đầu phun. Với support dạng cây hữu cơ, đầu nhánh không được nhỏ hơn độ rộng đường in support. Một project lớp 0,28 mm cho đầu phun 0,4 mm, khi chuyển sang đầu 0,2 mm, sẽ bị slicer từ chối cắt. Vì vậy khi đổi đầu phun, chiều cao lớp phải được kẹp lại và độ rộng đường in lấy theo đầu phun mới. Cài đặt riêng từng vật thể cũng phải tuân theo — đây là chỗ hay bị bỏ sót nhất.
Khi bàn in nhỏ hơn
Các bàn trong một project nằm trên một lưới. Theo mã nguồn Bambu Studio, khoảng cách giữa hai bàn kề nhau bằng 1,2 lần khổ in theo chiều đó — bàn 180 mm thì bàn sau lệch 216 mm. Lưới này được tính lại theo khổ máy mới, nên vật thể phải được dời theo, không chỉ đổi tên máy. Một bàn đầy trên máy 256 mm có thể không còn vừa máy 220 mm. Khi đó có hai lựa chọn: xếp lại bàn đó, hoặc tách ra thêm bàn mới ở cuối.
- Xếp lại thì phải chừa brim, vùng cấm mà nhà sản xuất khai báo trong profile máy (ví dụ dải mép bàn của Anycubic Kobra 3) và vị trí tháp xả.
- Vật thể chạm mép vùng in sẽ bị slicer từ chối, nên luôn chừa ít nhất nửa milimét.
- Lệnh đổi màu hay tạm dừng theo lớp gắn với từng bàn. Khi tách bàn, phải chép lệnh đó sang bàn mới, nếu không bàn mới sẽ in liền một màu.
- Máy có vùng in không bắt đầu từ gốc toạ độ — như chế độ copy/mirror của máy IDEX — có thể đặt bàn 2 trở đi lệch so với dự tính. Mở file và kiểm tra lại các bàn này trước khi in.
Ba cách chuyển, từ thủ công đến tự động
- 01
Chỉ lấy hình khối
Mở file, chấp nhận “geometry only”, chọn máy và preset của bạn rồi chỉnh lại từ đầu. Chắc chắn đúng với máy của bạn, nhưng mất mọi lựa chọn của người thiết kế. Nên dùng khi file gốc chỉ có một vật thể đơn giản.
- 02
Mở trong slicer gốc, lưu lại theo preset của bạn
Cài cả slicer gốc, mở project, đổi máy sang máy của bạn ngay trong đó, lưu lại, rồi mở trong slicer của bạn. Giữ được nhiều hơn, nhưng chỉ khi slicer gốc có profile máy của bạn — điều hiếm khi đúng giữa hai hãng.
- 03
Chuyển bằng công cụ
Thả file vào công cụ chuyển 3MF, chọn slicer đích, máy và đầu phun. Công cụ ghi lại thẻ Application, đổi tên giá trị, lấy G-code và giới hạn của máy đích, cập nhật danh sách khác biệt, xếp lại bàn không còn vừa, rồi in ra báo cáo từng giá trị. File không rời khỏi máy bạn.
Dù chuyển cách nào, hãy cắt lớp và xem bản xem trước trước khi bấm in: số lớp, thời gian, lượng nhựa và vị trí vật thể trên từng bàn. Nếu project có nhiều màu, đối chiếu màu từng khe với cuộn nhựa thật trong máy — số khe của máy mới có thể khác máy cũ. Lượng nhựa xả cũng thay đổi theo máy, xem bài về nhựa xả khi in nhiều màu.
Chuyển project là mang ý định của người thiết kế sang một cái máy khác — không phải ép cái máy khác chạy như máy cũ.
Những thứ không chuyển được
- G-code tuỳ chỉnh trong lệnh theo lớp. Lệnh dừng và đổi màu được slicer đích tự sinh lại cho máy mới. Nhưng một đoạn G-code thô người thiết kế viết cho máy của họ thì không nên chạy trên máy khác — hãy đọc lại trước khi in.
- Preset tuỳ chỉnh nhúng trong file. Chúng kế thừa preset của slicer gốc. Giá trị đã nằm sẵn trong project nên không mất gì khi bỏ chúng đi.
- PrusaSlicer, Cura, Simplify3D. Đây là họ phần mềm khác với cấu trúc cài đặt khác. Từ các phần mềm đó, chỉ hình khối là chuyển an toàn.
- Tính năng chỉ một nhánh có. Ví dụ một kiểu support hay kiểu infill mà slicer đích không có. Công cụ sẽ bỏ giá trị đó và ghi vào báo cáo để bạn chọn thay thế.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao Bambu Studio báo “The 3mf is not from Bambu Lab, load geometry data only”?
Vì thẻ Application trong file không phải của Bambu Studio — file được lưu bằng OrcaSlicer, Creality Print hay một bản fork khác. Bambu Studio khi đó chỉ nạp hình khối và bỏ qua toàn bộ cài đặt. Muốn giữ cài đặt, file phải được ghi lại đúng thẻ và đúng cách viết giá trị của Bambu Studio, ví dụ bằng công cụ chuyển 3MF.
OrcaSlicer mở được file Bambu Studio không?
Mở được và có nạp cài đặt, kèm cảnh báo rằng một số cài đặt có thể khác OrcaSlicer. Rủi ro nằm ở những giá trị khác cách lưu — Bambu Studio lưu nhiều tốc độ theo từng biến thể đầu phun, OrcaSlicer lưu một số — và ở profile máy: nếu project tham chiếu một máy OrcaSlicer không có, phần cài đặt máy sẽ không khớp.
Chuyển file có giữ được màu sơn không?
Có. Màu sơn từng mặt nằm trong tệp hình khối, theo cùng một cách ghi ở cả tám slicer, nên mang sang nguyên vẹn. Điều cần kiểm tra là khe nào đang chứa màu nào trên máy mới.
Có chuyển được sang PrusaSlicer hay Cura không?
Chỉ phần hình khối. PrusaSlicer và Cura dùng cấu trúc cài đặt khác hẳn họ Bambu/Orca, nên cài đặt in không có cách ánh xạ một-một đáng tin cậy. Mở file trong đó, chọn máy của bạn và cài đặt lại.
File của tôi có bị tải lên máy chủ khi dùng công cụ chuyển không?
Không. File được đọc và ghi lại ngay trong trình duyệt. Trình duyệt chỉ tải về dữ liệu profile máy công khai của các slicer.