Tới nội dung chính

Chi tiết này tốn bao nhiêu?

Bốn dòng chi phí, rồi một khoản dự phòng cho những bài in hỏng. Mọi con số về tiền là số bạn nhập; công cụ không giả định giá nhựa của bất kỳ ai.

Số của bạn

Kết quả

Nhựa
0
Điện
926
Khấu hao máy
0
Nhân công
0
Cộng
926
Dự phòng in lỗi
103

Giá một chi tiết tốt

1.029

· trên mỗi gam: 21,4

Giá điện mặc định 2.204 ₫/kWh là giá bán lẻ điện bình quân chưa gồm thuế GTGT theo Quyết định số 1279/QĐ-BCT ngày 09/5/2025; đơn giá thực tế của bạn phụ thuộc bậc thang và nhóm khách hàng. Công suất 120 W chỉ là chỗ giữ số — hãy thay bằng số đo trên máy của bạn. Bộ Công Thương / EVN · 27/08/2026

Cách tính

Vì sao tỉ lệ in lỗi 10 % không phải là cộng thêm 10 %.

Nếu một trong mười bài in phải bỏ, thì mỗi chi tiết dùng được phải gánh chi phí của 1 ÷ (1 − 0,1) lần in, tức khoảng 11 % nhiều hơn chứ không phải 10 %. Càng tỉ lệ lỗi cao, khoảng cách này càng lớn — ở 30 % là hơn 42 %.

Điện thường là dòng nhỏ nhất và cũng là dòng bị đoán sai nhiều nhất, vì phần lớn công suất đi vào bàn nhiệt chứ không vào động cơ. Con số đúng lấy từ một đồng hồ đo công suất cắm giữa ổ và máy, không lấy từ nhãn nguồn.

Khấu hao máy là dòng dễ bỏ quên nhất: lấy giá máy cộng vật tư thay thế, chia cho số giờ in bạn kỳ vọng trước khi thay máy. Bỏ dòng này thì mọi báo giá đều thấp hơn thực tế.

Có nên tính cả thời gian thao tác của người không?

Có, nếu bạn bán chi tiết. Gỡ support, chà nhám, kiểm tra và đóng gói thường tốn nhiều tiền hơn nhựa. Hãy đưa vào dòng nhân công theo mức bạn thật sự muốn được trả.

Tỉ lệ in lỗi nên đặt bao nhiêu?

Đặt theo số của chính bạn, không theo con số nghe hợp lý. Hãy đếm số bài in phải bỏ trong tháng vừa rồi. Với vật liệu kỹ thuật và chi tiết cao, tỉ lệ này cao hơn hẳn so với PLA in chi tiết nhỏ.

Vì sao công cụ không có giá nhựa sẵn?

Vì giá bán lẻ thay đổi liên tục và khác nhau theo từng nơi bán. Một con số điền sẵn sẽ cũ đi trong im lặng và làm sai mọi báo giá dựa trên nó, nên chỗ đó để trống cho bạn nhập.